CafeLand - Chính phủ ban hành Nghị định 102, Nghị định 43, Thông tư 19,… nhằm hỗ trợ trong việc thành lập cũng như quản lý công ty cổ phần. Nhưng đôi lúc, chính những quy định này lại gây mâu thuẫn cho nhà làm luật cũng như các doanh nghiệp.

Đầu tiên là quy định về vốn điều lệ trong công ty cổ phần. Theo Luật Doanh nghiệp, vốn điều lệ trong công ty cổ phần là số vốn do cổ đông góp hoặc cam kết góp trong thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty. Với quy định trên, các doanh nghiệp có thể hiểu luật không yêu cầu các cổ đông phải ngay lập tức phải góp vốn mà có thể được góp thành nhiều lần trong một khoảng thời gian xác định.

Đối với công ty cổ phần, luật chỉ yêu cầu các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán. Theo cách hiểu này, đối với một doanh nghiệp tung ra 10,000 cổ phần được quyền chào bán với giá 1,000,000đ/cổ phần, thì vốn điều lệ dự kiến của công ty sẽ là 10 tỷ.

Trên thực tế, Nghị định 43 năm 2010 quy định, hướng dẫn như sau: “Vốn điều lệ công ty cổ phần không bao gồm giá trị của số cổ phần được quyền chào bán.” (Khoản 4 Điều 40). Có thể hiểu, vốn điều lệ sẽ bao gồm tổng giá trị của các cổ phần mà cổ đông đã góp và số cổ phần được quyền chào bán sẽ không còn được xem là vốn điều lệ. Thêm vào đó, vồn điều lệ trong Luật doanh  nghiệp quy định bao gồm vốn đã góp và cam kết góp, tại Nghị định 43 lại không đề cập đến.

Khi các cổ đông sáng lập đã góp vốn điều lệ nhưng đồng thời vẫn phải mua thêm 20% số cổ phần dù muốn dù không, trong khi vốn điều lệ lại không hề thay đổi. Nếu áp dụng Nghị định 43, đồng thời áp dụng yêu cầu các cổ đông sáng lập trong Luật Doanh nghiệp thì sẽ phần nào gây bất lợi cho các cổ đông sáng lập trong khi văn bản Nghị định nên hướng dẫn để áp dụng luật.

Nhưng, điều đáng lưu ý là Nghị định 43 năm 2010 lại quy định “Vốn điều lệ công ty cổ phần không bao gồm giá trị của số cổ phần được quyền chào bán.” .Có thể hiểu, vốn điều lệ sẽ bao gồm tổng giá trị của các cổ phần mà cổ đông đã góp và số cổ phần được quyền chào bán sẽ không còn được xem là vốn điều lệ. Điều này hoàn toàn không hoàn toàn phù hợp với quy định về vốn điều lệ trong Luật doanh  nghiệp đã đề cập trên. Đồng thời, nếu áp dụng thêm Nghị định 43 yêu cầu các cổ đông sáng lập trong Luật Doanh nghiệp thì sẽ phần nào gây bất lợi cho các cổ đông sáng lập trong khi nghị định ban hành là để hướng dẫn áp dụng luật.

Thêm vào đó Luật Doanh nghiệp cũng quy định thêm là trong vòng 3 năm nếu số cổ phần không được mua hết thì doanh nghiệp sẽ phải giảm vốn điều lệ. Tức là, khi các cổ đông không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán cũng như không bán hết cho các cổ đông bên ngoài trong vòng 3 năm thì công ty sẽ phải giảm vốn điều lệ bằng với số cổ phần đã chào bán. Một lần nữa, quy định tại Nghị định 43 lại gây mâu thuẫn khi vốn điều lệ “không bao gồm giá trị cổ phần chào bán’’, thì việc đăng ký giảm vốn điều lệ mang ý nghĩa gì?

Cuối cùng là theo luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp phải đăng ký tăng vốn điều lệ để phản ánh phần vốn tăng lên. Như vậy, khi một cổ đông mua một số cổ phần có giá trị bất kỳ thì doanh nghiệp phải đi đăng ký, điều này sẽ khiến doanh nghiệp phải liên tục thay đổi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho mỗi cổ đông góp vốn sao?

CafeLand kết hợp với Công ty luật PLF
KÉO TIẾP ĐỂ XEM NỘI DUNG ...
  • Facebook
  • Chia sẻ
  • Google +
Xem Thêm >>
Mọi thông tin bài vở hoặc ý kiến đóng góp cũng như thắc mắc liên quan đến thị trường bất động sản xin gửi về địa chỉ email: banbientap@cafeland.vn; Đường dây nóng: 0942.825.711.

Ý kiến của bạn

Thông tin thị trường bất động sản cập nhật liên tục, cung cấp đầy đủ thị trường mua bán nhà đất, mua bán bất động sản hàng đầu Việt Nam.